Monday, 06/04/2020|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử Trường THCS TAM HIỆP - PHÚC THỌ
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CỘI NGUỒN CỦA MÁI TRƯỜNG THÂN YÊU

Tam Hiệp xưa vốn là một miền quê nằm trong vùng đất cổ Sơn Tây – Xứ Đoài “bồng bềnh mây trắng”, cũng là nơi từng được coi là “địa linh nhân kiệt” và câu ca một thuở: “Tiếng ai như tiếng Xứ Đoài – Ăn cơm thì ít ăn khoai thì nhiều.” Sơn Tây xưa tuy nghèo nhưng rất đẹp và nổi tiếng với núi Tản sông Đà kỳ vĩ và nên thơ, là nơi lập đàn thề của Hai Bà Trưng dựng cờ dấy nghĩa và là quê hương của Phùng Hưng, Ngô Quyền, Giang Văn Minh, Quận Cồ, Đốc Ngữ còn ghi trong sử sách

                              CỘI NGUỒN CỦA  MÁI TRƯỜNG THÂN YÊU

Tam Hiệp xưa vốn là một miền quê nằm trong vùng đất cổ Sơn Tây – Xứ Đoài “bồng bềnh mây trắng”, cũng là nơi từng được coi là “địa linh nhân kiệt” và câu ca một thuở: “Tiếng ai như tiếng Xứ Đoài – Ăn cơm thì ít ăn khoai thì nhiều.” Sơn Tây xưa tuy nghèo nhưng rất đẹp và nổi tiếng với núi Tản sông Đà kỳ vĩ và nên thơ, là nơi lập đàn thề của Hai Bà Trưng dựng cờ dấy nghĩa và là quê hương của Phùng Hưng, Ngô Quyền, Giang Văn Minh, Quận Cồ, Đốc Ngữ còn ghi trong sử sách.

Cũng như bao làng quê trong địa hạt, từ ngàn xưa, người dân nơi đây đã được đón nhận, thụ hưởng cái linh khí của trời đất, hồn thiêng của núi sông cùng tinh hoa dân tộc và Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến. Vì vậy, Tam Hiệp đã sớm tạo dựng và vun đắp cho mình một diện mạo, một dáng vẻ, một tư thế cùng một sức sống bền bỉ, dẻo dai, anh dũng với những phẩm chất, những nét đẹp truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc và nét riêng của văn hóa vùng miền.

Trong cuốn “Lịch sử Cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Tam Hiệp (1929 – 2009) do Nhà xuất bản Hà Nội in ấn và phát hành đã có những dòng khẳng định: “Tam Hiệp còn trân trọng lưu giữ các giá trị tinh thần, đồng thời không ngừng phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương. Đó là tình cảm đoàn kết yêu thương, tương thân tương ái, uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây và tôn sư trọng đạo ...” “... Tam Hiệp cũng là nơi sản sinh, đào tạo những con người nổi tiếng, đức trọng tài cao qua con đường học vấn, đã đem tâm lực của mình để cống hiến cho xã hội và giúp ích cho đời ...”

Nằm trong vùng khoa bảng, được ảnh hưởng và tiếp nhận danh thơm của các địa phương như Sài Sơn, Ngọc Mỹ, Hương Ngải, Hữu Bằng, Chàng Sơn, Phùng Xá, Thư Trai... từ lâu, Tam Hiệp cũng là mảnh đất yêu chuộng văn chương sự học. Bởi vậy, việc học chữ Hán đã có từ rất sớm. Hầu hết các làng trong xã đều xây dựng khu Văn Chỉ, Từ Chỉ để thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền có công khai sáng nền Nho học. Thần phả đình Mỹ Giang còn ghi công đức của tướng công Đỗ Năng Tế không chỉ là một viên tướng tài ba lỗi lạc mà còn là thầy dạy cả văn lẫn võ cho hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị những năm đầu công nguyên.

Nhiều bậc danh sĩ, danh nho đã qua cửa Khổng sân Trình và “lều chõng” trong các kỳ thi hương, thi hội tại các trường thi Nam Định và kinh thành Thăng Long. Bia tiến sĩ Văn Miếu – Hà Nội và các sắc phong, tài liệu đã vinh danh Tam Hiệp có 2 vị tiến sĩ, 7 vị cử nhân, 11 vị tú tài cùng hàng trăm sinh đồ, đầu xứ, nhất nhị tam trường. Cụ Nguyễn Đạo Hưng, người làng Khánh Hiệp (tức Mỹ Giang) năm 29 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Quý Sửu (1493) niên hiệu Hồng Đức thứ 24. Cụ Nguyễn Khắc Tuy, cũng làng Khánh Hiệp đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1544), năm thứ tư Mạc Mậu Hợp. Cả hai cụ đều được ra làm quan, giữ trọng trách ở triều đình. Tại làng Thượng Hiệp, Phạm Mô tiên sinh Trần Vinh Tước, năm 22 tuổi, đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ (1726) đời Lê Bảo Thái. Sau khi nhận sắc vua ban, cụ đã vào làm tùy giảng tại trường Quốc Tử Giám, sau được phong tri phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 trong xã có những vị cử nhân, tú tài, đầu xứ, hoặc có kiến thức Hán văn sâu rộng, nhưng không tham chính mà chuyên tâm nghiên cứu, thực hành về nho, y, lý, số. Đến nay, mặc dầu đã gần 1 thế kỷ trôi qua, nhưng trong tâm thức của các cụ cao niên vẫn còn trân quí hình ảnh các cụ như Nguyễn Ngọc Dịch, Trần Quang Thông, Nguyễn Văn Duẩn, Trần Huy Mại, Đỗ Phan Nguyên, Trần Huy Huyến, Trần Quang Chù cùng các cụ Phó Chủ, Đồ Phúc, Thanh Trai, Như Sơn ... Bởi trong con mắt của mọi người khi ấy, đã nhận ra các cụ không chỉ giỏi giang kiến thức, mà còn là những người thầy tận tâm, đức độ, có công khai sáng cho các thế hệ con em trong làng. Hơn nữa, hiểu được sự cần thiết và tác dụng của việc học hành để mở mang tâm trí, không ít gia đình, dù là kinh tế khá giả hay đời sống vẫn còn chật vật khó khăn, nhưng vẫn cố cho con cái đến nhà thầy kiếm dăm ba chữ. Rất nhiều gia đình cả hai, ba thế hệ nối tiếp nhau tầm sư học đạo. Nhiều dòng họ nổi tiếng chữ tốt văn hay như họ Đào, Nguyễn, Lê, Đỗ, Trần, Phan, ... Vì vậy, trong một chừng mực nhất định, tiếng đồn về một miền quê hiếu học cũng đã lan tới một vài nơi quanh vùng.

Trong 80 năm Pháp thuộc, mặc dầu bọn đế quốc thực dân thi hành triệt để chính sách ngu dân nhằm dễ bề cai trị, nhưng bằng mọi cách, tại các xóm ngõ của Thượng Hiệp, Mỹ Giang, Hòa Thôn, Đại Điền, Hiệp Cát vẫn có các lớp học tại gia, cả chữ Nho và chữ quốc ngữ. Bên cạnh đó, bằng sự khôn khéo với đầy đủ lý lẽ, một số vị có chức sắc trong dân đã đặt vấn đề và buộc các nhà chức trách của huyện và tỉnh phải mở trường hương học và điều động giáo viên ở nơi khác đến (1). Vì vậy, số học sinh đi học ngày một nhiều. Không chỉ học ở làng, ở xã mà hàng năm, đã có tới hai, ba chục người lên học trên trường kiêm bị Ngọc Tảo để thi lấy bằng Séctiphica. Tính đến thời điểm trước tháng 8 – 1945, toàn xã có trên 50 người học hết bậc tiểu học, trong đó có gần 40 người đỗ hết cấp, 3 người tốt nghiệp trường sư phạm tiểu học, trở thành giáo viên chính ngạch, 2 người đỗ Điplome (tức đệ tứ bậc trung học). Bên cạnh đó, một số tuy không học vị cao, nhưng có trình độ, kiến thức sâu rộng, vững vàng, được nhân dân quí trọng và là những hương sư, tổng sư có tên tuổi (2).

Đặc biệt, từ khi có Đảng, do có trình độ học vấn và nhiệt tình tuổi trẻ, nên không ít người dân Tam Hiệp đã sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản và con đường cứu nước.  Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân trong xã đã vinh danh những con người ưu tú của quê hương, như Hoàng Văn Năng, Đào Văn Ấn , Trần Huy Học, Trần Quang Nghiễn, Trần Huy Điều, Phan Đình Khiêu là hạt nhân của “Hội học sinh yêu nước trường Ngọc Tảo” những năm 1931 – 1932. Mặc dầu bị bọn giặc bắt bớ, tù đày, tra tấn dã man nhưng các anh vẫn ngẩng cao đầu không khuất phục. Rồi sau đó, hàng loạt các thanh niên, trí thức như Nguyễn Đức Tiến, Đào Văn Bỉnh , Trần Quang Bào, Đào Đăng Châu, Trần Quang Hữu, Đỗ Công Đáp, Trần Kinh Chi ... đã nhanh chóng bắt nhịp với phong trào Việt Minh, tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân trong xã, huyện cùng cả nước đứng lên lật đổ ách thống trị của thực dân phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân trong Cách mạng tháng Tám 1945. Tiếp đến những năm kháng chiến chống Pháp, các thế hệ thanh niên, học sinh cũng lại là một trong những người hăng hái đi đầu cùng toàn dân đánh giặc, góp phần đáng kể vào danh hiệu cao quý “Đơn vị anh hùng trong thời kỳ chống Pháp” do nhà nước trao tặng cho Đẳng bộ, chính quyền và nhân dân Tam Hiệp.

Trong hoàn cảnh đất nước còn đắm chìm trong nô lệ lầm than đen tối của 80 năm dằng dặc do bọn đế quốc gây nên mà người dân Tam Hiệp vẫn không ngừng vươn dậy, vẫn tìm đến ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng của Đảng là một trong những nét đẹp rất đáng trân trọng và tự hào. Nét đẹp ấy còn bắt nguồn từ hàng ngàn năm cha ông ta dựng làng giữ nước, từ tinh hoa dân tộc để hình thành và làm nên duyên cách của người dân đất Hiệp. Phải chăng, chính cái bản sắc văn hóa của một miền quê anh dũng, kiên cường, yêu lao động, chuộng chữ nghĩa là một mảnh đất màu mỡ, tốt tươi để những mái trường thân yêu ra đời và phát triển, trong đó có trường cấp 2 Tam Hiệp (nay là trường THCS Tam Hiệp) được thành lập cách đây 60 năm

Chú thích:

(1): Lớp học ở Thượng Hiệp do thầy giáo Lữ ở Hưng Yên về dạy từ trước 1940 đến 1944.

(2): Ba thầy giáo chính ngạch: cụ Nguyễn Văn Doãn, Đỗ Tiến Thưởng ở Thượng Hiệp, cụ Đào Văn Ất ở Mỹ Giang. Hai ông có bằng Điplome là: Trần Văn Kỷ, Trần Văn Tán ở Mỹ Giang. Các thầy hương sư là: Trần Huy Toát, Trần Huy Chỉ, Vương Quốc Nghiễn, Đào Văn Hạnh, Nguyễn Ngọc Hoán, Đỗ Văn Lư. Các cụ Nguyễn Công Khỏa, Nguyễn Văn Lạp, Trần Huy Minh, Đỗ Kim Đan... cũng là những người có học thức thời bấy giờ.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin Video
Tài liệu
Thống kê truy cập
Hôm nay : 6
Hôm qua : 7
Tháng 04 : 49
Tháng trước : 394
Năm 2020 : 1.031
Năm trước : 827
Tổng số : 1.858